TỔNG QUAN VỀ ĐẤT NƯỚC SENEGAL
1. Thông tin chung
Tên đầy đủ |
Cộng hòa Senegan |
Vị trí địa lý |
Nằm ở Tây Phi, giáp Đại Tây Dương |
Diện tích Km2 |
196,190 |
Tài nguyên thiên nhiên |
Cá, phốt phát, quặng sắt |
Dân số (triệu người) |
13.30 |
Cấu trúc dân số |
0-14 tuổi: 42.7%
15-24 tuổi: 20.5%
25-54 tuổi: 30.1%
55-64 tuổi: 3.7%
Trên 65 tuổi: 2.9% |
Tỷ lệ tăng dân số (%) |
2.510 |
Dân tộc |
Wolof 43.3%, Pular 23.8%, Serer 14.7%, Jola 3.7%, Mvàinka 3%, Soninke 1.1%, người Châu Âu và Lebanese 1%, khác 9.4% |
Thủ đô |
Dakar |
Quốc khánh |
4/4/1960 |
Hệ thống pháp luật |
Dựa trên hệ thống luật dân sự Pháp |
GDP (tỷ USD) |
26.5 |
Tỷ lệ tăng trưởng GDP (%) |
3.7 |
GDP theo đầu người (USD) |
1900 |
GDP theo cấu trúc ngành |
nông nghiệp: 15.3%
công nghiệp: 22.7%
dịch vụ: 61.9% |
Lực lượng lao động (triệu) |
5.852 |
Lực lượng lao động theo lĩnh vực nghề nghiệp |
nông nghiệp: 77.5%
công nghiệp và dịch vụ: 22.5% |
Sản phẩm Nông nghiệp |
Hạt đậu, hạt kê, ngũ cốc, lúa miến, bông, cà chua, |
Công nghiệp |
Chế biến thủy sản và nông sản, khai thác phốt phát, sản xuất phân bón, lọc dầu, khai thác quặng sắt và vàng, vật liệu xây dựng, sửa chữa và đóng tàu |
Xuất khẩu (triệu USD) |
2458 |
Mặt hàng xuất khẩu |
Lạc, sản phẩm từ dầu, phốt phát, bông |
Đối tác xuất khẩu |
Mali, Ấn Độ, Italy, Pháp |
Nhập khẩu (triệu USD) |
5109 |
Mặt hàng nhập khẩu |
Thực phẩm và đồ uống, vốn, nhiên liệu |
Đối tác nhập khẩu |
Pháp, Anh, Trung Quốc, Nigeria, Hà Lan, Hoa Kỳ |
Nguồn: CIA 2013
2. Vị trí địa lý
Sénégal, tên chính thức Cộng hòa Sénégal là một quốc gia tại Tây Phi. Sénégal giáp Mauritanie về phía bắc, Mali đề phía đông, Guinée về phía đông nam, và Guiné-Bissau về phía tây nam.
Sénégal nằm ở phía tây lục địa châu Phi. Nó nằm giữa vĩ tuyến 12° và 17° Bắc, kinh độ 11° và 18° Tây.
Sénégal giáp với Đại Tây Dương về phía tây, Mauritanie về phía bắc, Mali đề phía đông, Guinée về phía đông nam, Guiné-Bissau về phía tây nam, và gần như vây quanh Gambia (trừ một đường biển ngắn của nước này).
Khung cảnh tai Sénégal chủ yếu gồm những đồng bằng cát tây Sahel nâng cao lên thành những dãy đồi ở phía đông nam. Tại đây có điểm cao nhất Sénégal, cách Nepen Diakha 2,8 km, cao 638 m (2.093 ft). Biên giới phía bắc được tạo nên từ sông Sénégal; những con sống khác gồm sông Gambia và sông Casamance. Thủ đô Dakar nằm trên bán đảo Cap-Vert, điểm cực tây của châu Phi.
3. Kinh tế
Tháng 1 năm 1994, Sénégal đã tiến hành một cuộc cải cách kinh tế sâu rộng và đầy tham vọng với sự hỗ trợ của cộng đồng các nước cho vay quốc tế. Cuộc cải cách bắt đầu với việc phá giá 50% đồng tiền tệ Sénégal, đồng franc CFA, vốn có tỷ giá cố định so với đồng franc cũ của Pháp và hiện nay là đồng euro. Sự kiểm soát và hỗ trợ giá cả của chính phủ dần được bãi bỏ. Sau khi kinh tế giảm sút 2.1% năm 1993, Sénégal đã có một bước chuyển quan trọng, nhờ chương trình cải cách đó, với tăng trưởng GDP thực tế hàng năm ở mức 5% trong giai đoạn 1995-2001. Lạm phát hàng năm từng chưa tới 1%, nhưng đã tăng tới ước tính 3.3% năm 2001. Đầu tư tăng trưởng vững chắc từ mức 13.8% GDP năm 1993 tới 16.5% năm 1997.
Với tư cách một thành viên của Liên minh Kinh tế và Tiền tệ Tây Phi (WAEMU), Sénégal hiện đang nỗ lực hội nhập sâu hơn nữa vào khu vực với một mức thuế quan thống nhất. Sénégal cũng đã thực hiện kết nối Internet toàn bộ năm 1996, tạo ra một cuộc bùng nổ các dịch vụ dựa trên công nghệ thông tin nhỏ. Hoạt động tư nhân hiện chiếm 82% GDP. Những hậu quả tiêu cực là việc Sénégal phải đối mặt với những vấn đề kinh niên của đô thị như thất nghiệp, bất bình đẳng kinh tế xã hội, thanh thiếu niên phạm tội, và nghiện ma tuý—tương tự như vấn đề sinh ra từ các tầng lớp xã hội khác nhau tại vùng đô thị các nước phát triển/công nghiệp.
4. Văn hoá- xã hội
Số người biết đọc, biết viết đạt 33,1%, nam: 43%, nữ: 23,2%.
Giáo dục dựa theo mô hình của Pháp. Tiếng Pháp là tiếng chính trong hà trường. Do vậy mà nhiều trẻ em phải bỏ học.
Công tác chăm sóc sức khoẻ cọng đồng đã được Chính phủ quan tâm, nhưng dịch bệnh vẫn đè nặng lên số phận dân cư.
Những danh thắng dành cho du lịch, nghỉ ngơi và giải trí: Tại Thủ đô có nhiều dnah thắng và di tích nổi tiếng như công viên Quốc gia Ni-ô-cô-lô, mũi ma-nuy-en, và An-nút-di
5. Du lịch
ến nơi đây mặc dù cảnh quan đơn giản nhiều người chắc chắn sẽ không để ý dẫn đến một sự lãng quên lớn. Các bạn thử đến và cảm nhận xem nơi đây rất độc đáo bời gần như toàn bộ diện tích đảo là dành cho nghĩa trang
Các bạn không thể tưởng tượng được nó như nào đâu nếu không đến tận nơi từ ngôi làng ra đến tận nghĩa trang được bao phủ bởi màu trắng của vỏ sò rất độc đáo. Ở đây mỗi ngôi mộ Kitô được làm dấu bằng một cây thánh giá. Theo như lịch sử để lại thì nơi đây là của người Hồi Giáo và Kitô Giáo nhưng phần lớn là Kitô giaó
ở đây, cư dân ở hòn đảo xinh đẹp này đã thu lượm nhưng động vật thân mềm lấy thịt ra rùi lấy cái vỏ của chúng để xây nên những bức tường bằng vỏ sò. Riêng biệt tạo sự độc đáo cho riêng hòn đảo này nó đã tồn tại nhiều năm qua và gắn kết với nhau. Chính vì thế đây là nguyên liệu chính trên đảo này từ đường đi và tường của những căn nhà đều được xây dựng từ vỏ ốc, vỏ sò với lối kiến trúc đẹp mắt. Các bạn thử bước những bước chân và cảm nhận tiếng lao xao của hàng trăm chiếc vỏ sò thật sự rất hay và yên bình
Có nhiều người đặt ra câu hỏi là vậy đến đây vào mùa nào tháng nào thì đẹp nhất.. Ở đây mùa du lịch bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 khi thời tiết trong thời gian này khô và dễ chịu hơn, nếu đến vào thời điểm này là đẹp nhất
|
Cây cầu nối liền đảo với Joal.
|
|
Dạo bước trên cầu.
|
|
Nghĩa trang vỏ sò.
|
|
Đây là nơi chôn cất của cả người theo đạo Kitô giáo và đạo Hồi.
|
|
Những ngôi mộ nằm xen lẫn với cây bao báp.
|
|
Nghĩa trang có hướng nhìn ra biển.
|